Việt Nam từ chỗ thiếu gạo, có lúc phải nhập lương thực giữa những năm tám mươi, đã bắt đầu xuất khẩu gạo từ cuối thập niên ấy. Sự chuyển mình đó đến từ cơ chế giao ruộng và khoán sản phẩm tới từng hộ nông dân, từ giống lúa mới, thuỷ lợi, và trên hết là sức lao động của hàng triệu gia đình nông dân. Hôm nay, cây lúa lại đứng trước những làn sóng đổi mới mới.
Chào bạn, đây là Nhà Đổi Mới. Tập này mình kể câu chuyện của hạt gạo, một trong những câu chuyện đổi mới ấn tượng nhất của Việt Nam, nhìn từ người cầm cày chứ không phải từ bàn giấy.
Khi người làm ra lúa gạo lại thiếu gạo
Nghe thì nghịch lý: một đất nước có hai đồng bằng lúa nước lớn, người dân giỏi trồng lúa từ ngàn đời, lại có những năm thiếu gạo. Nhưng đó là thực tế của nhiều vùng nông thôn giữa những năm tám mươi.
Một bác nông dân ở Thái Bình kể lại thời làm hợp tác xã: cả làng ra đồng theo kẻng, tính công điểm, cuối vụ chia thóc. Người làm chăm hay làm lười thì nhận được không chênh nhau bao nhiêu. Động lực bỏ thêm công sức không lớn.
Có những năm giáp hạt, nhiều nhà phải ăn độn khoai sắn. Trẻ con quen với cảm giác đói. Lúa ngoài đồng có, nhưng năng suất thấp.
Câu chuyện thay đổi bắt đầu khi cách tổ chức sản xuất thay đổi.
Giao ruộng cho hộ: thay đổi ở gốc
Từ cuối những năm tám mươi, cơ chế khoán sản phẩm tới hộ gia đình được mở rộng. Mỗi hộ được giao ruộng, tự quyết cách canh tác, nộp phần khoán, phần còn lại thuộc về mình.
Thay đổi này nghe đơn giản, nhưng nó chạm vào gốc của động lực. Làm thêm một công, chăm thêm một lứa, thu được thêm bao nhiêu thóc là của nhà mình. Bác nông dân kia nói rằng năm đầu được giao ruộng, cả nhà bác ra đồng từ sáng sớm tới tối mịt mà không ai phải nhắc.
Kết quả đến nhanh. Sản lượng lúa tăng mạnh trong vài năm. Năm một nghìn chín trăm tám mươi chín, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo.
Câu chuyện này hay được dùng để minh hoạ một điều mà các nhà kinh tế nói nhiều: cách tổ chức và động lực đôi khi tạo ra đổi mới lớn hơn cả máy móc.
Giống, nước và người nghiên cứu
Động lực thôi chưa đủ. Năng suất tăng bền vững còn nhờ giống lúa mới, ngắn ngày, chịu sâu bệnh, cho phép làm hai vụ, ba vụ một năm ở nhiều nơi.
Các viện nghiên cứu lúa ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng lai tạo nhiều giống mới, đưa về tận ruộng. Những kỹ sư nông nghiệp lội ruộng cùng nông dân là một phần ít được kể của câu chuyện.
Hệ thống kênh mương, thuỷ lợi được mở rộng, đưa nước ngọt vào những vùng trước đây chỉ làm được một vụ. Ở đồng bằng sông Cửu Long, nhiều vùng đất phèn, đất trũng được cải tạo.
Đổi mới trong nông nghiệp là một gói nhiều thứ cùng lúc: chính sách, giống, nước, kiến thức, thị trường. Thiếu một thứ, cả gói khó chạy.
Cái giá của chạy theo sản lượng
Như cuộc cách mạng xanh trên thế giới, chạy theo sản lượng cũng để lại cái giá. Ba vụ lúa liên tục làm đất ít được nghỉ. Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật dùng nhiều. Đê bao khép kín ở một số vùng làm phù sa không còn về ruộng.
Người nông dân trồng nhiều lúa nhưng thu nhập không phải lúc nào cũng cao. Giá lúa lên xuống, chi phí đầu vào tăng. Nhiều gia đình con cái bỏ ruộng lên thành phố làm công nhân.
Gạo Việt Nam có thời kỳ bị chê là nhiều về lượng mà chưa cao về giá. Những năm gần đây, các giống gạo thơm, gạo chất lượng cao được chú trọng hơn và đã có những giống được đánh giá tốt trên thị trường quốc tế.
Từ thiếu gạo sang dư gạo là một thành tựu. Từ dư gạo sang gạo ngon, nông dân sống tốt, đất khoẻ là chặng đường tiếp theo.
Những đổi mới đang đến với cây lúa
Ngày nay, máy gặt đập liên hợp đã thay cho cảnh cả làng ra đồng cắt lúa ở nhiều vùng đồng bằng. Máy bay không người lái phun thuốc, máy cấy, máy sấy dần phổ biến.
Những cách canh tác mới được thử nghiệm: giảm lượng giống gieo, giảm phân, tưới ướt khô xen kẽ để giảm khí thải và tiết kiệm nước, luân canh lúa với tôm hay với cây màu.
Biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sụt lún đất ở đồng bằng sông Cửu Long đặt ra câu hỏi lớn: vùng nào nên tiếp tục trồng lúa, vùng nào nên chuyển sang nuôi trồng khác. Đây là những câu hỏi còn đang được bàn, chưa có lời giải cuối.
Người nông dân lại đứng trước một làn sóng đổi mới. Lần này không chỉ là trồng nhiều hơn, mà là trồng khôn hơn.
Bài học từ hạt gạo
Câu chuyện hạt gạo cho thấy đổi mới không chỉ đến từ công nghệ. Một thay đổi trong cách tổ chức, trao quyền tự chủ cho người làm, có thể giải phóng một sức sản xuất đã bị kìm lại lâu năm.
Nó cũng cho thấy đổi mới bền vững cần đi cùng khoa học, hạ tầng và thị trường.
Và nó nhắc rằng mỗi thành công lại mở ra những vấn đề mới cần giải quyết. Không có đổi mới nào là điểm cuối.
Lần tới ăn bát cơm trắng, bạn thử nghĩ về hành trình của hạt gạo ấy, từ thời ông bà ăn độn khoai sắn tới hôm nay, và về những người nông dân đang lặng lẽ thử những cách làm mới ngoài đồng.
Câu hỏi thường gặp
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo từ năm nào?
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo từ năm một nghìn chín trăm tám mươi chín, vài năm sau khi bước vào công cuộc Đổi Mới, và từ đó trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới.
Khoán sản phẩm tới hộ là gì?
Là cơ chế giao ruộng đất cho từng hộ nông dân tự canh tác, nộp phần khoán theo quy định và được hưởng phần sản phẩm còn lại, tạo động lực trực tiếp để tăng năng suất.
Vì sao sản lượng lúa tăng nhanh sau khi giao ruộng cho hộ?
Vì người nông dân được hưởng trực tiếp thành quả lao động của mình, cùng với giống lúa mới, thuỷ lợi được mở rộng và kiến thức canh tác được phổ biến.
Ngành lúa gạo Việt Nam đang gặp những thách thức gì?
Biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sụt lún đất, chi phí đầu vào cao, thu nhập nông dân chưa ổn định và yêu cầu nâng chất lượng gạo trên thị trường quốc tế.
Tưới ướt khô xen kẽ là gì?
Là cách để ruộng lúa có lúc ngập nước, có lúc khô xen kẽ thay vì ngập liên tục, giúp tiết kiệm nước và giảm phát thải. Cách áp dụng cụ thể nên theo hướng dẫn của cán bộ khuyến nông địa phương.